• youtube
  • facebook

Quảng Bình: Để ngành công nghiệp vật liệu xây dựng vững bước đi lên

Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với nhiều loại có trữ lượng lớn; cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của bất động sản và tiến trình đô thị hóa, đẩy mạnh việc xây dựng căn bản; thị trường vật liệu xây dựng trở nên sôi động và có những bước tăng trưởng, để từ đó, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng (CNVLXD) tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn nâng cao công nghệ, đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, đưa tới khách hàng những sản phẩm chất lượng.

Cát, sỏi lòng sông - nguồn vật liệu chủ yếu phục vụ việc xây dựng cơ bản, san nền.
Cát, sỏi lòng sông - nguồn vật liệu chủ yếu phục vụ việc xây dựng cơ bản, san nền.

Nhiều tiềm năng để phát triển

Theo Quyết định phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2025: Quảng Bình có tới 56 khu vực mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường với diện tích: 1.290,13ha, tài nguyên dự báo: 883,82 triệu m3, phân bố ở địa bàn các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Lệ Thủy, Quảng Ninh và Bố Trạch, chủ yếu nằm lộ thiên và trên các tuyến giao thông chính. Ngoài ra, có 23 khu vực mỏ sét gạch ngói với tài nguyên dự báo: 6,67 triệu m3; 49 khu vực mỏ cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường với diện tích: 355,80ha, tài nguyên dự báo: 12,67 triệu m3; 38 khu vực mỏ đất làm vật liệu san lấp với diện tích 202,30ha, tài nguyên dự báo 10,45 triệu m3… được phân bố ở tất cả các huyện lỵ trên địa bàn với trữ lượng lớn, thuận tiện cho khai thác và vận chuyển, đáp ứng nhu cầu xây dựng tại Quảng Bình và các tỉnh lân cận như Quảng Trị và Hà Tĩnh.

Vật liệu xây dựng (VLXD) là “lương thực” của ngành Xây dựng, chiếm đến 60% giá trị trong chi phí xây dựng công trình. Nắm bắt lợi thế đó, những năm qua, sản xuất CNVLXD của Quảng Bình đã hình thành được các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, khẳng định thương hiệu có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và khu vực với các sản phẩm như: xi-măng Vicem Vạn Ninh, xi-măng Sông Gianh và clinke, gạch ceramic, cát sỏi xây dựng và san lấp...

Hiện toàn tỉnh có trên 300 cơ sở sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng, trong đó có 6 nhà máy xi măng với tổng công suất đạt gần 3 triệu tấn /năm; trên 20 nhà máy sản xuất gạch ngói tuynel, giải quyết việc làm cho khoảng 5000 lao động tại địa phương, đóng góp gần 43% nguồn thu ngân sách trong hoạt động sản xuất công nghiệp.

Mặt khác, nắm bắt xu hướng, thực hiện chủ trương của Chính phủ, ngành xây dựng, các địa phương về sản xuất, sử dụng gạch không nung với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 10 dây chuyền sản xuất gạch không nung với công suất hơn 60 triệu viên tiêu chuẩn/năm, sản phẩm các nhà máy sản xuất được thị trường chấp nhận, bước đầu tiêu thụ tốt. Với địa bàn tỉnh là nơi có điều kiện hết sức thuận lợi về nguyên liệu cho sản xuất vật liệu này thì việc tiếp tục đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất sử dụng gạch không nung là xu hướng tất yếu lâu dài.


Vật liệu xây dựng xanh, được ưu tiên sử dụng trong xây lắp công trình hiện nay.
Vật liệu xây dựng xanh, được ưu tiên sử dụng trong xây lắp công trình hiện nay.

Như vậy, có thể thấy rằng, ngành CNVLXD Quảng Bình đã được phát triển theo đúng hướng; nhiều cơ sở đã đầu tư, mở rộng công suất, đổi mới công nghệ, từng bước tiếp cận công nghệ hiện đại. Hơn nữa, việc chú trọng phát triển VLXD dựa trên những thế mạnh về nguồn nguyên liệu, tài nguyên sẵn có của địa phương không chỉ góp phần nâng cao giá trị lĩnh vực kinh tế xây dựng mà còn mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực này, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng của tỉnh nhà và mở rộng thị trường ra các tỉnh khác.

Và cần gỡ khó

Tuy nhiên, vẫn còn đó những vấn đề cần phải giải quyết: Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước cần có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng. Đặc biệt, có cơ chế với ngành CNVLXD như hỗ trợ đầu tư cho phát triển KCN, hạ tầng thiết yếu. Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi các thủ tục đầu tư, cấp phép hoạt động khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Cũng như khai thác tối đa công suất các cơ sở đã đầu tư.

Thứ hai, ngành vật liệu xây dựng là một trong những ngành kinh tế sử dụng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tài nguyên không thể tái tạo được như khoáng sản, cát, đá, sỏi và tiêu thụ năng lượng điện rất lớn. Với việc sử dụng nhiều nguyên liệu, tiêu thụ nhiều năng lượng và thải ra nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường nên nếu ngành vật liệu xây dựng không sớm có các giải pháp hữu hiệu thì khoáng sản sẽ nhanh cạn kiệt và môi trường càng ô nhiễm. Do đó, cần thiết phải quản lý chặt chẽ việc khai thác nguồn tài nguyên, bảo đảm cho sự đầu tư phát triển của doanh nghiệp, lợi ích Nhà nước và tránh xâm hại đến môi trường

Thứ ba, bên cạnh một số nhà máy có quy mô lớn, thiết bị công nghệ tiên tiến, thì phần lớn các nhà máy sản xuất VLXD khác có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu, tiêu tốn nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa với công nghệ phát triển nhanh, ngành vật liệt xây dựng có thể gặp khó khăn do không đủ điều kiện để cập nhật kỹ thuật mới, từ đó sản phẩm có thể trở nên lỗi thời, giá thành cao và không đáp ứng được các điều kiện về môi trường.

Hơn nữa, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu, phát triển vật liệu xây dựng xanh được quan tâm nhiều hơn, theo đó nhiều công trình đã được ưu tiên sử dụng sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường. Sản phẩm vật liệu xây dựng xanh được kỳ vọng sẽ là xu thế mới thay thế dần vật liệu xây dựng truyền thống đang sử dụng hiện nay.

 

create

Nhất Linh/baoxaydung.com.vn